NGUYỄN CÔNG TRỨ

1. Vị trí con đường

Bắt đầu từ đoạn giao với đường Phan Đình Phùng đến đoạn giao nhau với đường Hà Tôn Mục

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Công Trứ (Mậu Tuất 1778 - Mậu Ngọ 1858) là danh sĩ đời Tự Đức, lúc nhỏ có tên là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hải Văn, quê ở làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha làm Tham tán Nhung vụ, tước Đức Ngạn Hầu triều Lê - Trịnh. Năm 1819 ông đỗ Giải nguyên, năm 1820 được bổ làm Hành tẩu ở Quốc Sử quán, thăng dần lên Lang trung, Thị lang, Tham tri, sung chức Dinh điền sứ, Tổng đốc An Hải, nhiều lần làm tướng cầm quân dẹp thảo khấu bình định nội loạn, rồi bị cách chức, sau lại phục chức thăng Phủ doãn Thừa Thiên. Ông tính tình ngay thẳng, phóng khoáng, lại liêm khiết thương dân, hết mình vì đất nước, công lao không ai sánh được. Ông là người làm hết mực, chơi hết ga, đồng thời là một nhà văn hóa dân tộc. Về "cách chơi" ông có bài thơ nổi tiếng viết ở Huế: "Lênh đênh một chiếc thuyền lan Một cô gái Huế, một quan đại thần Ban ngày quan lớn như thần Ban đêm quan lớn tần mần như ma Ban ngày quan lớn như cha Ban đêm quan lớn rầy rà như con". Ông để lại khá nhiều thơ văn, nhiều bài hát nói theo chất liệu dân ca xứ Nghệ. Là người có công khẩn hoang lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, tỉnh Thái Bình. Năm Thiệu Trị thứ ba, 1843, ông bị vu cáo nên bị cách tuột hết chức vụ, giáng xuống làm lính thú ở Quảng Ngãi. Ông đã từng nói: "Lúc làm đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào có nghĩa vụ đối với địa vị ấy". Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ suy tôn ông làm Khai canh, Thành hoàng làng. Tháng 6 năm Duy Tân thứ tám (1914) ông được truy phong tước Thọ Tường Tử.

 

Phan Đình Phùng

1. Vị trí con đường

Đường Phan Đình Phùng bắt đầu từ ngã 3 đường Hà Huy Tập - (QL 1A) đến đoạn giao với đường Phan đình Phùng,Hàm Nghi

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Phan Đình Phùng (Đinh Mùi 1844 - ất Mùi 1895), người anh hùng chống Pháp, hiệu Châu Phong, quê ở làng Đông Thái, nay là xã Đức Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình Nho học, cha là Phó bảng, từng làm Phủ doãn Thừa Thiên, sau ra Bắc làm Tán lý Quân vụ. Phan Đình Phùng đỗ Cử nhân năm 1876, năm 1877 thi Đình đỗ Đình nguyên Tiến sĩ, được cử giữ chức Ngự sử Đô sát viện làm việc tại Kinh đô. Ông tính cương trực thẳng thắn, thông minh, liêm khiết không xu nịnh bất cứ ai, dù đó là vua. Ông cực lực phản đối Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường chuyên quyền tự phế vua Dục Đức, nên 1883, ông bị bắt giam rồi đuổi thẳng về làng. Nhưng khi Kinh đô thất thủ, vua Hàm Nghi ra Tân Sở xuống chiếu Cần Vương, ông đã sát cánh cùng Tôn Thất Thuyết tập hợp nghĩa binh kháng Pháp. Ông lập căn cứ ở vùng rừng núi Hương Sơn, Hà Tĩnh quyết đánh Pháp tới cùng. Ông là người có học vấn cao, lại hay tin dùng tướng trẻ. Cao Thắng là một viên tướng như vậy được ông giao trọng trách mở xưởng chế tạo vũ khí để đánh giặc, nhờ vậy mà nghĩa quân của ông đánh thắng nhiều trận làm cho quân thù tổn thất khốn đốn. Chúng dùng chiêu bài cử Hoàng Cao Khải gửi thư chiêu dụ, ông từ chối; chúng cử Nguyễn Thân và đám tay sai đem quân ra sức đàn áp, bắt thân nhân, quật mồ mả tổ tiên ông, song ông vẫn không sờn lòng mà còn chiến đấu oanh liệt hơn trước. Sau gần 10 năm kháng chiến đánh Pháp, Phan Đình Phùng lâm bệnh, mất tại chiến khu núi Quạt, nhằm ngày 28/12/1895, hưởng dương 51 tuổi (có sách ghi ông sinh năm 1847, mất năm 1895, hưởng dương 48 tuổi). Phan Đình Phùng để lại một số bài thơ: Khóc Cao Thắng, Lâm chung thời tác, Thắng trận hậu cảm tác, Điếu Lê Ninh và Viết sử địa dư vựng cách, lúc sắp mất ông có bài "Thuật hoài" tỏ rõ chí mình, qua bản dịch của Nguyễn Q. Thắng: "Nhung trường vâng mạng đã mười đông, Việc võ lôi thôi vẫn chẳng xong! Dân đói vang trời kêu ổ nhạn, Quân gian dậy đất rộn đàn ong. Chín trùng lận đận miền quan tái, Trăm họ phôi pha đám lửa nồng. Trách vọng càng to càng nặng nhọc, Tướng môn riêng hổ tiếng anh hùng". Được tin ông mất, nhiều văn thân Nghệ Tĩnh và sĩ phu khắp đất nước làm thơ, đối liễn thương tiếc kính viếng ông.

 

Võ Liêm Sơn

1. Vị trí con đường

Đường Võ Liêm Sơn bắt đầu từ ngã 4 đường Phan Đình Phùng – đến đoạn giao với đường Phan Đình Giót

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

          Võ Liêm Sơn, hiệu Ngạc Am, sinh năm Mậu Tý (1888) tại xã Hữu Ngoại (nay là xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) trong một gia đình nho học có truyền thống yêu nước lâu đời.

Từ nhỏ, Võ Liêm Sơn đã theo đuổi Hán học, rồi học tiếp chữ Pháp. Năm 1911, ông đỗ Thành Chung ở trường Quốc học Huế, được bổ làm giáo học ở đạo Ninh Thuận. Năm 1912, ông đỗ cử nhân Hán học khoa Nhâm Tý ở trường thi Quy Nhơn. Sau một thời gian học hậu bổ, ông được bổ tri huyện Duy Xuyên - Quảng Nam, nhưng chưa đầy một năm ông bị huyền chức, chuyển về Huế làm Thừa Biện. Ông bắt đầu đọc sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu.

Từ năm 1915-1918, ông lại được bổ làm giáo thụ rồi Kiểm học ở Phú Yên, đến năm 1919, chế độ học quan của Nam Triều bị bỏ, ông ra Huế dạy Hán văn và Việt văn ở trường Quốc học. Khi Tân Việt cách mạng Đảng thành lập, ông được kết nạp và nhà ông trở thành nơi đi lại và hội họp của các đảng viên. Năm 1930, ông và người con trai đầu là Võ Bỉnh Sơn bị bắt và đưa về giam ở nhà lao Hà Tĩnh gần một năm. Khi được tha ông lại vào Huế, Khâm sứ Trung Kỳ Y-vơ Sa-ten (Yvé Châtel) đã nhiều lần mua chuộc nhưng ông không chịu ra làm quan. Năm 1934, ông sáng lập Tân Văn nghệ Tùng thư nhưng mới xuất bản được 2 cuốn sách thì bị khám nhà và bị bắt giam.

          Năm 1947, Võ Liêm Sơn được chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà bổ nhiệm làm Trưởng ban tuyên truyền kháng chiến, Uỷ viên uỷ ban kháng chiến hành chính đồng thời được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên việt Hà Tĩnh.

Năm 1948, ông được bổ nhiệm làm Uỷ viên Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu IV và trong Đại hội mặt trận Liên việt liên khu, ông được bầu làm Chủ tịch. Tại Hội nghị văn hoá toàn quốc tổ chức ở Việt bắc năm 1948, ông được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với Người chuyện trò xướng hoạ và được Bác tặng thơ. Võ Liêm Sơn mất ngày 22/12/1949 thọ 61 tuổi.

Phan Đình Giót

1. Vị trí con đường

Đường Phan Đình Giot bắt đầu từ ngã tư Hà Huy Tập – Nguyễn Xí đến đoạn giao với ngã ba đường Phan Đình Phùng.

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Phan Đình Giót (1920-1954)

(1920-1954) Phan Đình Giót - sinh nǎm 1920 ở làng Tam Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà nghèo, cha mất sớm, hai mẹ con đùm bọc nuôi nhau trong cảnh bóc lột áp bức của địa chủ. Nǎm 1950. Phan Đình Giót xung phong đi bộ đội. Anh tham gia nhiều chiến dịch lớn: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ - hai lần bị thương nặng vắn tiếp tục chiến đấu và đã hy sinh oanh liệt trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Đó là trận tiêu diệt cứ điểm Him Lam - tư thế hy sinh của anh - lấy thân mình bịt lỗ châu mai giặc - mãi mãi là hình tượng sáng ngời khí thế tiến công của người chiến sĩ cách mạng: Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, dành cho Tổ quốc tất cả tuổi trẻ và cuộc sống của mình...

 Hà Tôn Mục

  1. Vị trí con đường:

           Đường Hà Tôn Mục bắt đầu từ ngã Tư Phan Đình Giót đến đoạn giao với đường Nguyễn Biểu, Nguyễn Chí Thanh.

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

          Hà Tông Mục (Tôn Mục) sinh ngày 25-9 năm Quý Tỵ (1653) mất ngày 7-3 Ðinh Hợi (1707) tự Hậu Như, hiệu Thuần Như, Chuyết Trai, Ðôn Phủ; là một danh thần nổi tiếng triều Lê, có nhiều công trạng to lớn đối với đất nước, là người có ân tình sâu nặng với quê hương trong đạo lý truyền thống Việt Nam và có tư tưởng đổi mới, dân chủ.
Làng quê ông, làng Tỉnh Thạch, huyện Thiên Lộc (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh nằm ở phía nam Hồng Lĩnh, là một làng quê giàu truyền thống yêu nước. Vùng ấy còn có nhiều danh nhân văn hóa, nhiều bậc trung liệt như Ðặng Dung, Ðặng Tất...
Dòng họ Hà của ông là một dòng họ khoa bảng, các đời đều có người là trụ cột của đất nước, như cụ Hà Tông Trình (1434 - 1511) từng là thượng thư bộ Binh, bộ Hình, bộ Công, Tế tửu Quốc Tử Giám thời Lê sơ.
          Bản thân Hà Tông Mục là một kiện tướng chốn khoa trường. Ông đỗ tiến sĩ năm 1688, lại đỗ đầu kỳ thi ứng chế, tức kỳ thi dành cho các tiến sĩ ở điện Vạn Thọ, đầu bài do chính nhà vua ra. Mấy năm sau, Hà Tông Mục lại thi đỗ khoa Ðông Các là khoa thi đặc biệt chỉ dành cho những người đã đỗ tiến sĩ và đang làm quan.
           Ông từng giữ các chức quan như: Lại khoa cấp sự trung (kiểm tra công việc quan lại, tổ chức); Nội tán (dạy học cho con, cháu vua chúa); Thủy sư; Biên tu quốc sử quán; Ðốc đồng (trấn giữ) hai xứ Tuyên - Hưng; Phủ doãn phủ Phụng Thiên (đứng đầu kinh đô); Chánh sứ; Tả thị lang bộ Hình (đứng thứ hai sau thượng thư, hàng tam phẩm).
          Thời đại của Hà Tông Mục là thời đại suy vong của nhà Lê, thực quyền thuộc về họ Trịnh, nhà Thanh thường xuyên lăm le xâm lược, trong nước rối loạn, đạo lý suy vi.Sự quật cường và đạo lý tốt đẹp của dân tộc ẩn tàng trong nhân dân và được thể hiện mạnh mẽ bởi những trung chính thần hiếm hoi như Hà Tông Mục. Với tài năng lỗi lạc của mình, Hà Tông Mục đã đóng góp rất xứng đáng để giải quyết mối họa ngoại xâm, giữ yên đất nước, phát triển kinh tế - xã hội ở nơi ông cai quản.
           Năm 1699, nhà Thanh xâm lấn Bảo Lạc (Cao Bằng), Hà Tông Mục và Nguyễn Hành đã lui được giặc trong cuộc đấu tranh ngoại giao với Sầm Trì Phượng. Năm 1703, đi sứ sang Trung Quốc, Hà Tông Mục đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ được hòa hiếu hai nước, khiến vua nhà Thanh Khang Hy hết sức cảm phục, tặng cho một bức đại tự do chính Khang Hy viết "Nhược xung hiên", khắc gỗ và sơn son tại Trung Quốc, hiện còn giữ tại đền thờ Hà Tông Mục ở quê. Ba chữ đó có nghĩa là "khiêm nhường, trí tuệ, chí khí cao cả".
Hà Tông Mục là một tác giả của "Ðại Việt sử ký tục biên".Ðánh giá công trạng của Hà Tông Mục, các triều Lê, Nguyễn đã có tám đạo sắc phong. Sắc phong năm Chính Hòa 14 (1693) viết: "Sắc ban Hà Tông Mục người có tâm thuật, giỏi gánh vác việc công, am tường về từ chương".
          Sắc phong năm Vĩnh Thịnh thứ ba (1707) viết: "Sắc quang tiến Vinh lộc đại phu bồi tụng Hình bộ Tả thị lang Hoan lĩnh nam Hà Tông Mục, dự trúng tiến sĩ, trải giữ các chức; phụng sự lâu năm, đi sứ phương bắc, chăm lo việc nước có công, nay mất khi tại chức, thực đáng xót thương".
           Chuẩn y tặng: Ðặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu (hàm chánh nhất phẩm) Công bộ thượng thư, Hoan lĩnh tử. Ðặt thụy (tên sau khi chết) là Mẫn Ðạt.

Ngô Đức Kế

1. Vị trí con đường

Đường Ngô Đức Kế bắt đầu từ đoạn giao đường Hà Huy Tập đến đoạn giao với đường Đặng Dung

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

          Ngô Đức Kế (chữ Hán: 吳德繼; 1878-1929), hiệu là Tập Xuyên, là một nhà báo, thành viên của phong trào Duy Tân, chống lại chế độ thuộc địa của Pháp tại Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Ngô Đức Kế ở làng Trảo Nha, tổng Đoài, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là hậu duệ của danh tướng Ngô Văn Sở, Ngô Cảnh Hựu, Ngô Phúc Vạn, Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm thuộc dòng họ Ngô Phúc nhiều đời làm quận công, giữ các chức vụ trọng yếu của các triều Lê - Trịnh và Tây Sơn.

Ông sinh ra trong một gia đình quan lại nhiều đời. Ông nội ông là Ngô Phùng, từng giữ chức Toản tu Sử quán, hàm Quang Lộc tự Thiếu Khanh. Cha ông là Tả tham tri Bộ Lễ Ngô Huệ Liên, về sau cũng giữ chức Toản tu Quốc sử quán. Vì vậy, từ nhỏ ông đã là ấm sinh theo học tại Quốc tử giám. Năm 1901, ông đậu Á khoa thi Đình và nhận danh hiệu tam giáp đồng tiến sĩ khoa Tân Sửu năm Thành Thái thứ 13.

Sau khi đỗ đại khoa, ông không ra làm quan mà liên kết với Lê Văn Huân, Đặng Nguyên Cẩn để hoạt động trong phong trào Duy Tân, lập ra lập Triều Dương Thương Dịch ở Vinh..

Năm 1908, ông bị Pháp bắt[1] và bị đày ở Côn Đảo cho đến năm 1921.

Năm 1922, khi vừa mới ra tù ông tiếp tục hoạt động, làm chủ bút (tổng biên tập) báo Hữu Thanh ở Hà Nội, sáng tác thơ vǎn, xuất bản sách tiến bộ, thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta.

Sau khi báo bị đóng cửa, Ngô Đức Kế mở Giác quần thư xã (1926), xuất bản một số sách tiến bộ: "Phan Tây Hồ di thảo" (1927), "Đông Tây vĩ nhân".

Ông qua đời ngày 10 tháng 12 năm 1929.

Tên của ông được đặt cho các con đường ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Vinh, thành phố Cần Thơ, thành phố Huế, thị xã Bà Rịa...

Nguyễn Biểu

1. Vị trí con đường

Đường Nguyễn Biểu bắt đầu từ  đường Hà Huy Tập đến ngã tư giao nhau đường Hà Tôn Mục , 26/3.

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

          Nguyễn Biểu (?-1413): Thân thế của Nguyễn Biểu sử sách chỉ chép là người làng Bà Hồ, huyện Chi La (nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) không chép ngày tháng năm sinh cha mẹ là ai, làm gì. Ông đỗ Thái học sinh thời Trần, đã từng theo giúp vua Trùng Quang nhà Hậu Trần từ những ngày đầu mới lên ngôi, lấy đất Bà Hồ, huyện Chi La làm căn cứ tổ chức cuộc kháng chiến chống giặc Minh. Lúc bấy giờ lực lượng kháng chiến của Giản Định đế Trần Ngỗi đã suy yếu, Trùng Quang đế đã tìm cách đưa Trần Ngỗi về Bà Hồ tôn làm Thái Thượng hoàng thống nhất lực lượng kháng chiến. Từ đó Bà Hồ chỉ còn lại lực lượng nhỏ, còn Thượng Hoàng và nhà vua cùng các tướng đều đưa quân ra trận, thời gian này nghĩa quân lúc tiến ra Bắc lúc lui về Diễn Châu, Nghệ An, nhưng sau trận thua ở Thần Đầu vào năm 1412 nghĩa quân bị tổn thất nặng. Quân Minh chiếm Thanh Hoa, Diễn Châu và thành Nghệ An, vua Trùng Quang phải rút vào giữ vùng Tân Bình Thuận Hoá và sai Nguyễn Biểu đi sứ cầu phong ở thành Nghệ An tìm kế hoà hoãn chờ đợi thời cơ.

Về việc đi sứ và cái chết của ông, Đại Việt sử ký Toàn thư chỉ chép: “Mùa hạ tháng 4 năm Quý Tỵ (1413) bọn Trương Phụ nhà Minh đánh mạnh vào Nghệ An, vua chạy về Châu Hoá sai Đài quan là Nguyễn Biểu làm sứ cầu phong mang sản vật địa phương đến Nghệ An. Trương Phụ giữ lại Biểu tức giận mắng rằng: Trong bụng đánh lấy nước bên ngoài giả làm quân nhân nghĩa đã hứa lập con cháu nhà Trần lại đặt quận huyện không những chỉ cướp lấy vàng bạc châu báu còn giết hại nhân dân, thực là giặc tàn ngược lắm. Phụ giận lắm đem ra giết”. Còn trong sách “ Nghĩa Sĩ truyện” thì chép rằng: “ Khi tới trước quân Trương Phụ bọn giặc bắt ngài lạy. Ngài đứng trơ không nhúc nhích. Nhân thế giặc đặt tiệc thết, nấu một đầu người mà mời, cốt để cho rõ ý ngài. Ngài tức thì lấy đũa khoét hai mắt, hoà với giấm mà nuốt”. Trong bản chép tay kèm ở trong gia phả họ Nguyễn có thêm: “Lúc bày tiệc ra ngài cười mà nói: “Đã mấy lúc người Nam lại được ăn đầu người Bắc”. Trương Phụ hay tin cảm phục đối xử tử tế rồi cho ông về, nhân đó Phụ hỏi viên hàng thần Phan Liêu: “ Nguyễn Biểu là người thế nào?” Liệu vốn có hiềm khích với ông bèn nói: “Người ấy là hào kiệt ở An Nam, Ngài muốn lấy nước Nam mà không có người này thì việc thành sao được”. Phụ sai người theo bắt ông lại hòng uy hiếp mua chuộc nhưng khi Nguyễn Biểu bị dẫn đến trước dinh, Trương Phụ bắt ông lạy ông vẫn đứng thẳng không hề run sợ. Phụ mắng ông vô lễ ông bèn vạch âm mưu và tội ác của giặc. Phụ tức giận sai quân đưa ông ra trói dưới cầu Yên Quốc (tức cầu Lam, một nhánh sông Lam chảy giữa hai làn Vệ Chánh và Quang Dụ xưa) cho nước lên dìm chết. Ông lấy móng tay vạch vào cột cầu 8 chữ: “ Thất nguyệt, sơ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử” (ngày mồng 1 tháng 7 Nguyễn Biểu chết). Trương Phụ giết ông nhưng phải ngầm kính phục cho đưa thi hài về Bình Hồ an táng. Vua Trùng Quang được tin ông tử tiết hết sức thương xót sai làm văn Dụ tế, nhà sư chùa Yên Quốc cũng soạn bài văn làm lễ cầu siêu cho ông. Nguyễn Biểu vị sứ giả của dân tộc đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Minh. Tiết tháo của Nguyễn Biểu thật là lẫm liệt, trước giặc giữ lòng chỉ nghĩ đến vua, trước vận suy của nước vẫn làm rạng danh quốc thể.

          Nhân dân miền Nghệ Tĩnh lập miếu thờ, suy tôn ông là Nghĩa vương. Các triều đại sau cũng truy phong ông làm Phúc thần. Hiện nay, tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ có đền thờ Nguyễn Biểu được xây dựng vào thời Nhà Lê để tưởng nhớ công lao của ông .

 

Đặng Dung

1. Vị trí con đường

Đường Đặng Dung giao nhau ngã ba đường Nguyễn Chí Thanh đến ngã ba đường Phan Đình Giót.

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

          Đặng Dung (1373-1414) là danh tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người xã Tả Hạ, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ Anh (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Cha của ông là Đặng Tất, người theo phò vua Giản Định đế của nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định đế giết chết cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân. Giận vì cha mình chết oan, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rời đi, lập Trần Quý Khoáng tức vua Trùng Quang tiếp tục khởi nghĩa.  Tháng 5/1407, cha con họ Hồ bị bắt ở cửa biển Kỳ La, Chiêm Thành nhân đó dấy quân hòng chiếm lại đất Thăng Hoa. Đặng Tất xin với Trương Phụ cho mình cai trị đất Hóa châu, Trương Phụ chấp thuận, sau đó quân Chiêm Thành rút về. Tháng 10/1407, người con thứ của vua Trần Nghệ Tông, tên là Trần Ngỗi, tự lập làm vua lên ngôi ở Tràng An, xưng là Giản Định đế. Do quân mới lập, nhà vua phải chạy vào Nghệ An, Đặng Tất lúc ấy làm Đại tri châu Hóa châu nghe tin, liền giết viên quan nhà Minh đem quân từ Hóa châu ra Nghệ An phò giúp. Đặng Tất dâng con gái cho vua Giản Định đế, sau đó được phong làm Quốc công.

          Năm 1409, sau trận đại chiến ở Bô Cô (xã Hiếu Cổ, huyện Ý Yên, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay). Vì nghe lời khuyên của hoạn quan là Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang, nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) đem binh Thuận hóa về Thanh Hóa, rước Trần Quý Khoáng đến Nghệ An lập làm vua.Trần Quý Khoáng là con Mẫn vương Ngạc và là cháu Trần Nghệ Tông, trước kia Quý Khoáng làm quan nhập nội thị trung. Trần Quý Khoáng lên ngôi vua ở Chỉ Là, đổi niên hiệu là Trùng Quang, dùng Nguyễn Súy làm Thái phó, Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã. Lúc này Giản Định đế đang ở thành Ngự Thiên, chống nhau với nhà Minh. Trùng Quang đế sai Nguyễn Súy mang quân đến đánh úp, bắt được Giản Định đế. Mẹ Giản Định đế và bầy tôi là Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh bàn nhau khởi binh đánh úp lại Trùng Quang đế – Trần Quý Khoáng. Việc bị tiết lộ, Trùng Quang đế bắt giết Lê Tiệt và Nguyên Đỉnh. Khi ấy Nguyễn Súy đưa Giản Định đế đến Nghệ An, Trùng Quang đế thay mặc mũ áo thường ra đón tiếp. Trùng Quang đế bèn tôn Giản Định đế làm Thượng hoàng, cùng nhau mưu tính việc khôi phục. Giản Định đế và Trùng Quang đế chia quân làm 2, Giản Định đế tiến quân đến Hạ Hồng, vua Trùng Quang tiến quân đến Bình Than, các người hùng kiệt ở các lộ đều hưởng ứng; gặp lúc Trương Phụ dẫn quân đến, Giản Định đế bỏ thuyền lên bộ, Trương Phụ chia quân đi đằng sau, bắt được giải về Kim Lăng. Cánh quân vua Trùng Quang giữ nhau với Trương Phụ ở Bình Than, chia cho Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử, vì thiếu lương thực, quân tan vỡ, vua Trùng Quang được tin, tự liệu không chống nổi, lại về Nghệ An, Trương Phụ đuổi theo, đến đâu cũng chém giết người vô số.

Năm 1410, vua Trùng Quang dẫn quân tiến ra bắc, thắng một số trận nhưng vì hiệu lệnh không thống nhất, quân Minh tiến đến đâu, quân Hậu Trần tan vỡ đến đó. Vua Trùng Quang lại rút binh về Nghệ An.Đầu năm 1411, vua nhà Minh sai Trương Phụ mang 24.000 quân tiếp viện cho Mộc Thạnh, năm sau Trương Phụ dẫn binh vào Nghệ An gặp Nguyễn Suý, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung ở Mô Độ. Hai bên liều chết đánh nhau chưa phân thắng bại, thì Nguyễn Súy và Nguyễn Cảnh Dị vượt biển chạy, Hồ Bối bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung thế cô, không có cứu viện, liền đi thuyền nhẹ vượt biển trốn đi. Năm 1413, Trương Phụ lại tiến đánh Nghệ An, đến đây nhà Hậu Trần phải lui vào Hóa Châu, đất cố thủ cuối cùng của nhà Hậu Trần.

Tháng 9/1413, quân Trương Phụ vào đến Thuận châu, Nguyễn Suý và Đặng Dung giữ sông Thái Gia, đặt phục binh, nhân đêm đánh úp dinh Trương Phụ. Đặng Dung nhảy lên thuyền Trương Phụ toan bắt sống, nhưng không biết mặt, vì thế Trương Phụ mới nhảy xuống sông lấy thuyền nhỏ mà chạy thoát được. Bấy giờ quân Hậu Trần còn rất ít, Trương Phụ thấy vậy đem binh đánh úp lại, bọn Đặng Dung địch không nổi phải bỏ chạy.Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không?. Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mới chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!”Đặng Dung sau này bị bắt giải về Trung Hoa nhưng giữa đường đã tuẫn tiết để giữ tròn khí tiết. Ông có để lại một bài thơ tên là “Cảm hoài”, tỏ rõ lòng yêu nước và khí phách của mình, trong đó có những câu như: “Thù trả chưa xong đầu đã bạc. Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày“.

Nguyễn Chí Thanh

1. Vị trí con đường

Đường Nguyễn Chí Thanh từ ngã tư Phan Đình Phùng đến giao nhau ngã tư đường Hà Tôn Mục, 26/3.

  1. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh sinh ngày 01 tháng 01 năm 1914, quê làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông là con trai của Nguyễn Hán và Trần Thị Thiển, con thứ sáu trong gia đình có 11 người con (tính cả anh em cùng cha khác mẹ). Ông sinh trưởng trong một gia đình trung nông, thuở nhỏ cũng được học hành. Năm 14 tuổi, cha qua đời, gia đình nghèo, ông bỏ học, đi làm tá điền kiếm sống và nuôi gia đình. Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh sinh ngày 01 tháng 01 năm 1914, quê làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông là con trai của Nguyễn Hán và Trần Thị Thiển, con thứ sáu trong gia đình có 11 người con (tính cả anh em cùng cha khác mẹ). Ông sinh trưởng trong một gia đình trung nông, thuở nhỏ cũng được học hành. Năm 14 tuổi, cha qua đời, gia đình nghèo, ông bỏ học, đi làm tá điền kiếm sống và nuôi gia đình.

Năm 1934, ông tham gia cách mạng trong phong trào Mặt trận Bình dân.

Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư chi bộ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Từ năm 1938 đến năm 1943, ông nhiều lần bị Pháp bắt giam ở nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 09 tháng 03 năm 1945) mới ra tù. Sau khi ra tù và trở lại hoạt động, ông được bầu làm Bí thư Khu ủy khu IV và được cử đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào (8-1945). Trong Đại hội Đảng ở Tân Trào, ông được đặt bí danh là Nguyễn Chí Thanh, được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ có nhiệm vụ theo dõi và tổ chức giành chính quyền tại Trung Kỳ trong Cách mạng tháng 8.

Từ năm 1948 đến 1950, ông làm Bí thư Liên khu ủy IV. Cuối năm 1950, làm Chủ nhiệm Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), được cử vào Bộ Chính trị.

Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Nguyễn Chí Thanh lại được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào Bộ chính trị và Ban Bí thư. Năm 1961, được giao nhiệm vụ Phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Trong chiến tranh Việt Nam, Trung ương Đảng điều ông trở lại quân đội. Nguyễn Chí Thanh còn là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1961, ông liên tục phát động các phong trào thi đua trong các hợp tác xã, giúp ổn định tình hình phát triển trong hoạt động sản xuất nông nghiệp miền Bắc.

Từ năm 1965 đến năm 1967, ông được phân công vào Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam. Thời gian này ông lấy bí danh là Sáu Vi. Khi viết báo, ông thường lấy bút danh là Trường Sơn.

Tại chiến trường, ông là người đề ra chiến thuật đánh áp sát của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm "Nắm thắt lưng địch mà đánh", lối đánh này dùng phương châm cơ động áp sát nhằm hạn chế ưu thế hỏa lực của quân Mỹ.

Ông mất ngày 06 tháng 07 năm 1967 tại Hà Nội do một cơn nhồi máu cơ tim khi ra Hà Nội để báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam.

 

Văn bản mới ban hành
Bản đồ phường Nam Hà
 Liên kết website
Thống kê: 20.723
Online: 5